Hiệu suất kinh doanh của các doanh nghiệp FDI trên sàn chứng khoán.

Năm 2003, sau 15 năm từ khi mở cửa đón dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam, Chính phủ có nghị định cho phép doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chuyển đổi từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần và niêm yết trên sàn chứng khoán.

Thị trường chứng khoán Việt Nam không thiếu những doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài chi phối trên 51% như Sabeco (SAB), Nhựa Bình Minh (BMP), Imexpharm (IMP), Nhựa Ngọc Nghĩa (NNG), Bao bì Biên Hoà (SVI),… Con số này còn có thể gia tăng khi các tập đoàn lớn nước ngoài vẫn “nhăm nhe” gom cổ phần của các doanh nghiệp sản xuất đầu ngành của Việt Nam.

Trong quá khứ, thị trường chứng khoán cũng từng có một làn sóng các doanh nghiệp FDI lên sàn giai đoạn 2003-08 sau khi Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ra đời. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp FDI lên sàn những năm sau đó lại ngày càng thưa thớt, một số cái tên thậm chí còn bị huỷ niêm yết.

Đến thời điểm hiện tại, chỉ có 6 doanh nghiệp FDI còn niêm yết và 3 cái tên đang giao dịch trên UpCOM. Ngoài SBV, những cái tên còn lại là Everpia (EVE), Mirae (KMR), Công nghiệp Tung Kuang (TKU), Gốm sứ Taicera (TCR), Dây và Cáp điện Taya Việt Nam (TYA), Quốc tế Hoàng Gia (RIC), Interfood (IFS), Gạch men Chang Yih (CYC).

Theo thống kê của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, trong vòng 5 năm đầu chính sách này có hiệu lực, 10 doanh nghiệp FDI đã chuyển đổi để lên sàn. Đến năm 2017 mới có thêm một doanh nghiệp là Công ty cổ phần Siam Brothers Việt Nam (SBV) lên sàn chứng khoán.

Tuy nhiên, đến nay, cả nước chỉ còn 8 doanh nghiệp FDI đang niêm yết trên sàn chính thức. 3 doanh nghiệp đã hủy hiêm yết, 2 trong số đó chuyển sang sàn UpCOM gồm IFS và CYC.

Như vậy ở cả 3 sàn HOSE, HNX và UpCOM hiện có 10 doanh nghiệp FDI niêm yết.

Doanh nghiệp có lợi nhuận sau thuế lớn nhất hiện nay là Công ty cổ phần Thực phẩm quốc tế (IFS) với 155 tỷ đồng, tiếp theo là Công ty Cổ phần Thành Thành Công - Biên Hòa (SBT) với 104 tỷ đồng.

Biểu đồ lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp FDI giao dịch trên sàn chứng khoán. Đơn vị: tỷ đồng.

Biểu đồ lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp FDI giao dịch trên sàn chứng khoán. Đơn vị: tỷ đồng.

Năm 2020, đa số các doanh nghiệp FDI đang niêm yết, đăng ký giao dịch chịu ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, phần lớn các doanh nghiệp FDI có lợi nhuận sau thuế giảm hoặc có kết quả kinh doanh thua lỗ riêng chỉ có SBV và TKU có lợi nhuận sau thuế tăng tương ứng 18% và 56%.

Trong giai đoạn 2016-2019, 7/10 doanh nghiệp FDI niêm yết, đăng ký giao dịch thường xuyên có lãi qua các năm, 3/10 doanh nghiệp FDI có kết quả kinh doanh thua lỗ (CYC, RIC, TCR). Trong các doanh nghiệp kinh doanh có lãi, IFS là công ty có lợi nhuận sau thuế tăng trưởng bền vững qua các năm, tăng hơn 5 lần từ năm 2016 đến 2019. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp FDI có kết quả kinh doanh có lãi vẫn lớn hơn so với số lượng FDI kết quả kinh doanh thua lỗ.

Hiện nay, vốn hóa của doanh nghiệp FDI niêm yết, đăng ký giao dịch chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn hóa thị trường (khoảng 0,3%). Như vậy, quy mô của doanh nghiệp FDI niêm yết, đăng ký giao dịch là nhỏ so với quy mô của thị trường chứng khoán.

Bên cạnh đó, theo UBCKNN, vẫn chưa xuất hiện tình trạng thoái vốn của cổ đông sáng lập và nhà đầu tư nước ngoài tại các doanh nghiệp FDI đang niêm yết, đăng ký giao dịch. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại 8/10 doanh nghiệp FDI đang niêm yết, đăng ký giao dịch có xu hướng tăng sau khi lên sàn và chỉ có 2/10 doanh nghiệp FDI có tỷ lệ sở hữu nước ngoài giảm.

>> Tham gia Gr Zalo  để nhận thêm nhiều thông tin thị trường hữu ích mỗi ngày